LỊCH SỬ HÌNH THÀNH QUẢNG BÌNH

 
Lịch sử hình thành tỉnh Quảng Bình


 Trong lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, Quảng Bình luôn là một phần đất thiêng liêng của lãnh thổ Việt Nam. Vùng đất Quảng Bình hôm nay đã trải qua nhiều lần thay đổi cương vực (địa giới lãnh thổ) và tên gọi. Theo thư tịch cũ, thuở vua Hùng lập quốc, Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang.
 Dưới các triều đại phong kiến Trung Quốc, đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, vùng đất Quảng Bình khi thì nằm trong quận Tượng Lâm, khi thì nằm trong quận Nhật Nam.

Năm 192 triều đại Đông Hán bị đánh bại phải rút quân về nước, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp. Đến năm 758 Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình nằm trong 2 châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý.
Năm 1069, để phá tan âm mưu cấu kết giữa quân xâm lược nhà Tống và Chiêm Thành, một đạo quân Đại Việt do Lý Thánh Tông cầm đầu và tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy, đã tiến đánh vào tận kinh thành Chăm-pa, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Để chuộc tội, vua Chiêm cắt dâng 3 châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (gồm Quảng Bình - Quảng Trị) cho nhà Lý. Quảng Bình trở về với cội nguồn Đại Việt từ đó.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt đổi tên Châu Bố Chinh thành Châu Bố Chính, Châu Địa Lý thành Châu Lâm Bình. Mảnh đất Quảng Bình từ đó chính thức được đưa vào bản đồ nước ta. Chính Lý Thường Kiệt là người có công đầu xác định và đặt nền móng đầu tiên của vùng đất Quảng Bình trọn vẹn cương vực lãnh thổ như ngày nay.
Sau thời Lý Thường Kiệt, cương vực và tên vùng đất này lại có nhiều thay đổi, năm 1361 vua Trần Duệ Tông đổi châu Lâm Bình thành phủ Tân Bình, năm 1375 Trần Duệ Tông đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình.
Dưới triều Lê, đời Lê Thánh Tông (1460-1497), quận Tân Bình thuộc Châu Thuận Hoá.
Đến thời Nguyễn Hoàng (1558 đến 1604) vùng đất Bắc sông Gianh gọi là xứ Đàng Ngoài, vùng Nam sông Gianh gọi là xứ Đàng Trong. Năm 1605 Nguyễn Hoàng đổi Châu Bố Chính thành phủ Quảng Bình, cái tên Quảng Bình có từ đó.
Nguyễn Huệ là người có công chấm dứt nội chiến Nam Bắc phân tranh hơn 200 năm, lấy sông Gianh làm ranh giới, thống nhất đất nước xóa bỏ 2 châu Bắc, Nam Bố Chính thành lập Châu Thuận Chính (Thuận có nghĩa là hòa thuận chấm dứt chiến tranh).
Năm 1802, sau khi đàn áp phong trào Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, Gia Long trở lại tên gọi vùng đất Quảng Bình hiện nay là Bố Chính nội, Bố Chính ngoại, nhằm phân biệt giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài trong việc phong tước phẩm, định mức thuế đối với nhân dân hai bờ sông Gianh.
Năm 1832, đời vua Minh Mạng, Bố Chính trở về tên gọi là tỉnh Quảng Bình (tên tỉnh Quảng Bình là một đơn vị hành chính bắt đầu từ đây). Từ đây cho đến thời vua Thiệu Trị toàn tỉnh có 2 phủ, 6 huyện (phủ là đơn vị hành chính bao gồm nhiều huyện). Phủ Quảng Ninh có 3 huyện: Phong Lộc, Phong Đăng và Lệ Thủy (Đồng Hới thuộc phủ Quảng Ninh). Phủ Quảng Trạch gồm 3 huyện: Bố Trạch, Bình Chánh và Minh Chánh.
Sau phong trào Cần Vương cho đến trước 1945, Quảng Bình có 2 phủ và 3 huyện (phủ lúc này không bao gồm huyện) đó là: Quảng Ninh và Quảng Trạch, ba huyện: Lệ Thủy, Bố Trạch, Tuyên Hóa (suốt thời kỳ thuộc địa Pháp dưới triều Nguyễn, Đồng Hới là tỉnh lị Quảng Bình).
Sau Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Quảng Bình có 5 huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa và thị xã Đồng Hới (đến năm 1965 tách huyện Tuyên Hóa thành 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa cho đến tháng 9 - 1975).
Từ ngày 20 tháng 9 năm 1975 Trung ương có quyết định nhập Quảng Bình với Quảng Trị và Thừa Thiên thành tỉnh Bình - Trị - Thiên, lấy thành phố Huế làm tỉnh lị.
Bắt đầu từ đây có sự sát nhập một số huyện ở Quảng Bình cũ: huyện Lệ Ninh (Quảng Ninh và Lệ Thủy), huyện Tuyên Minh (Tuyên Hóa và Minh Hóa).
Đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Bình Trị Thiên, ngày 1-7-1989 Trung ương Đảng đã có quyết định tách 3 tỉnh về địa giới cũ. Quảng Bình phục hồi lại vị trí các huyện như trước khi nhập tỉnh. Ngày 12-12-2004 thị xã Đồng Hới được Chính phủ ra Quyết định nâng cấp thành Thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh.
Hiện nay (2006) toàn tỉnh có 141 xã, 10 phường, 8 thị trấn, 1 thành phố.
Quảng Bình nằm trên giải đất phía Bắc miền Trung, có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, có dãy Hoành Sơn chạy từ Tây sang Đông, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn (Lào) với đường biên giới dài 201,87km, phía Đông là biển đông với đường bờ biển dài 116,04 km. Nơi đây trong lịch sử đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm, nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư, nơi chứa đựng nhiều ảnh hưởng của nhiều nền văn minh.

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất học, vùng đất Quảng Bình có một bề dày văn hoá hàng nghìn năm, có nhiều dấu tích cư trú lâu đời của người tiền sử, từ thời đồ đá giữa, cách đây khoảng vạn năm. Các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước trước năm 1945, đã phát hiện được trên địa phận Quảng Bình nhiều di tích khảo cổ học.
Năm 1926, nhà khảo cổ học người Pháp đã phát hiện và khai quật nhiều di chỉ hang động ở miền Tây Quảng Bình, thuộc huyện Tuyên Hoá, qua đó cho thấy có sự tồn tại của nền văn hoá khảo cổ mang tên Hoà Bình ở vùng núi đá vôi này. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình trên đất Quảng Bình thời tiền sử sống trong các hang động, các mái đá. Họ thường chọn các hang đá, mái đá cao ráo, nhiều ánh sáng và gần nguồn nước, thức ăn chủ yếu của họ là ốc. Sinh sống trong các hang động ở miền thượng nguồn của Quảng Bình, theo mực nước thuỷ triều rút xuống, những người cổ men theo các triền sông có đất đai màu mỡ di cư xuống đồng bằng ven biển, khai phá đầm lầy, chinh phục thiên nhiên, xây dựng quê hương làng bản. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những di chỉ làng ven các dòng sông: di chỉ Cồn Nền nằm ở bờ Bắc sông Gianh chừng 200m, di chỉ Lệ Kỳ nằm sát một dòng sông cổ bị vùi lấp v.v... Tất cả đều theo dòng chảy của nước về kết tinh trong nền văn minh Bàu Tró. Đây là một địa điểm khảo cổ học vô cùng quan trọng có niên đại trên dưới 5.000 năm. Văn hoá Bàu Tró tiêu biểu cho thời kỳ đồ đá mới ở ven biển miền Trung. Bàu Tró được phát hiện vào năm 1923. Từ đó đến nay, công cuộc khai quật, nghiên cứu Bàu Tró càng được đẩy mạnh, mở ra nhiều triển vọng trong việc nghiên cứu Quảng Bình thời tiền sử và người tiền sử Quảng Bình, cũng như vấn đề tiền Đông Sơn và tiền Sa Huỳnh; mối quan hệ qua lại của văn hoá hai miền qua văn hoá Bàu Tró. Đã có nhiều ý kiến cho rằng văn hoá Bàu Tró là một trong những cội nguồn nảy sinh văn hoá Đông Sơn phía Bắc và văn hoá Sa Huỳnh ở phía Nam. Nếu chủ nhân văn hoá Hoà Bình ở miền Tây Quảng Bình đã sáng tạo nên một nền văn hoá miền núi thì người Bàu Tró cũng tạo nên một nền văn hoá nước ở miền xuôi.
Thành tựu vĩ đại của người Quảng Bình thời tiền sử là họ đã biết chế tạo những công cụ bằng đá salíc pha vẩy sét, một loại đá lửa làm công cụ lao động tốt nhất chưa hề thấy trong các văn hoá đá mới ở Việt Nam. Mặt khác, họ còn là chủ nhân của văn hoá gốm màu sớm nhất trên đất nước ta. Nó chứng tỏ cộng đồng người tiền sử Quảng Bình ngay từ đầu đã có một nền tảng kỹ thuật đồ đá, đồ gốm rất cao. Người Quảng Bình thời tiền sử từ văn hoá Hoà Bình đến văn hoá Bàu Tró luôn mang bản sắc riêng - bản sắc của vùng đất đầy nắng gió Lào, bản sắc của một cư dân có tính cần cù, chịu khó, bền bĩ được hình thành cách đây trên dưới vạn năm, là ngọn nguồn tạo nên bản sắc độc đáo: Văn hoá Quảng Bình trong bản sắc văn hoá Việt Nam.
Mùa hè năm 1923, hai thông tin viên người Pháp của trường Viễn đông Bác Cổ là Mác (Max) và Đơ-pi-rây (Depiruy) đã phát hiện di chỉ khảo cổ học Bàu Tró.
Bàu Tró là tên của một hồ nước ngọt nằm giữa các đồi cát ven biển, ở phía Đông Bắc thị xã Đồng Hới. Nơi đây từ ngàn xưa, người nguyên thủy đã cư trú quanh hồ. Dấu vết của người xưa đã chìm dần trong cát.

Bàu Tró
Di chỉ khảo cổ học Bàu Tró ở vào 106 độ 37’13" kinh độ Đông, 17 độ 29’30" vĩ độ Bắc. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Páttơ (Etinen Patte) đã tổ chức khai quật Di chỉ Bàu Tró và công bố kết quả nghiên cứu trong một báo cáo trên tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ (Viện Khảo cổ học ngày nay) với nhan đề: "Về một di chỉ thời tiền sử đá mới, đống vỏ sò Ở Bàu Tró, Tam Tòa gần Đồng Hới". Hiện vật thu được còn tàng trữ tại Viện bảo tàng lịch sử việt Nam, gồm: 46 rìu đá, 140 mảnh tước, 2 hòn đá bằng thạch anh (Páttơ gọi là hòn ghè: Perueteur), 1 dụng cụ đá dùng để tu chỉnh ép (Reto-uchoir), 14 bàn nghiền hạt, 1 chì lưới, 1 số thổ hoàng (đá son), 1 đốt xương sống cá, vỏ sò, mảnh gốm vỡ, v v...
Páttơ đã mô tả rằng: "...Những người thời tiền sử ở đây đã để lại các dụng cụ và rất nhiều vỏ ốc là di tích của các bữa ăn của họ. Rồi họ bỏ đi, rồi bị cát, bị gió thổi đã bao phủ di chỉ..."
Mùa xuân năm 1980, khoa lịch sử khảo cổ Trường Đại học tổng hợp Huế khai quật lại di chỉ Bàu Tró. Địa điểm khai quật nằm phía tây nam của bàu, cách mép nước bàu lúc đó 40 mét cao hơn mặt nước 2,3 m, cách hố khai quật năm 1923 của Páttơ hơn 100 mét về phía Tây. Cùng tham gia khai quật có giáo sư Hà Văn Tấn (Viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam), Võ Quý (Ban Đông Nam Á, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam). Hiện vật thu được gồm 31 rìu, bôn đá, 47 bàn mài, 7 chày nghiền, 3 mũi nhọn, 1 vòng say, 2 phiến tước. Nhiều cục thổ hoàng bị mài vẹt từ nhiều phía; 11972 mảnh vỡ đồ gốm, gồm các loại nồi, niêu, bình, vò, bát, đĩa, cốc v.v... được trang trí bằng hoa văn dấu thừng, hoa văn khắc vạch, màu đỏ thổ hoàng, màu đen ánh chì v.v... Điều vô cùng lý thú, nếu như năm 1923 Páttơ chỉ tìm thấy loại di chỉ Cồn Cò Điệp thì nay chúng ta đã tìm thấy loại di chỉ mới - di chỉ Cồn Đất.
Với quy mô và ý nghĩa khoa học to lớn của di chỉ Bàu Tró các nhà nghiên cứu đã lấy tên di chỉ này để đặt cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới, gồm các di chỉ phân bố vùng ven biển Nghệ Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế là văn hóa Bàu Tró.
Bàu Tró, ngoài ra còn là một thắng cảnh, hơn nữa là một thắng cảnh dân dụng.
Đứng trên đồi cát làng Hải Thành nhìn thấy Bàu Tró và biển chỉ còn một khoảnh khắc nữa là chan hòa vào nhau. Ấy thế mà mạch nước ở đó vẫn cứ trong văn vắt và ngọt mát đến mê hồn. Bàu Tró là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt, nước nông nghiệp cho toàn bộ vùng Đồng Hới nhiễm mặn. Thuở trước, Bàu Tró thật hoang vu, thật nguyên sơ với một vùng phi lao cổ thụ, với rất nhiều chim chóc, bay nhảy, bơi lặn. Cạnh Bàu Tró có một cái nghè thờ một vỏ lúa bằng gỗ khá to. Có rất nhiều chuyện kể dân gian xung quanh cái bàu kỳ lạ này, trong đó có chuyện cho rằng bàu này " không đáy" mà thông với một bàu nước ngọt khác: Bàu Sen, cách Đồng Hới ngót 30 km đường đất! Đó là cách lý giải dân gian về khả năng "vô tận" của nguồn nước ngọt nhỏ nhoi, quí hiếm nằm lọt vào giữa ba bề bốn bên là nước mặn.
Ngày nay, Bàu Tró đang được đặt vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chẳng những là một di chỉ khảo cổ học, một thắng cảnh nổi tiếng mà còn là nguồn nước sinh kế cho một vùng cư dân trù phú.